Gà móng hoang dã - Con non bản lĩnh thả rơi mình xuống nước không để kẻ khác ăn thịt

Gà móng hoang dã ( Opisthocomus hoazin ), là một loài chim nhiệt đới được tìm thấy ở các đầm lầy, rừng ven biển, hoặc tại các khu rừng ngập mặn ờ Amazon và cả khu đồng bằng Orinoco ở Nam Mỹ.
Gà móng hoang dã có bộ lông đầy màu sắc, với cái mào nổi bật trên đầu. Ngoài ra chúng còn được xem là loài chim tiền sử với móng vuốt mọc ở cánh, có công dụng vô cùng tốt để các chim non có thể leo trèo và chạy trồn kẻ thù hiệu quả.

Kích thước chiều dài cơ thể khoảng 65 cm, cổ dài đầu nhỏ, khuôn mặt màu xanh, đôi mắt màu đỏ. Trên đầu có những sợ lông màu vàng mọc dài ra (từ 4 đến 8cm) như mào, phía trên của cổ và lưng là một màu đen kèm những vệt trắng. Đôi cánh, bụng và đùi có màu hạt dẻ, cuối cùng là một màu vàng cam ở dưới cổ và phần cuối đuôi.
Môi trường sống chủ yếu là trong các khu rừng ngập nước, dọc theo các con suối, hoặc các đầm lầy và cả những khu rừng ngập mặn. Nơi này chúng thường đứng thành bầy đàn nhỏ với số lượng từ 10 đến 50 thành viên, trên các thảm thực vật thuỷ sinh, chủ yếu là các loài cây thân gỗ to và chính những nơi này sẽ cung cấp nguồn thức ăn yêu thích cho chúng.
Hoatzin là loài chim ăn lá chiếm 80% khầu phần ăn của chúng, trong khi hoa chỉ có 10%  và quả là 8%, nó cũng ăn cả côn trùng và các loài động vật nhỏ khác nhưng là hoàn toàn tình cờ. Chúng thường có thói quen ăn uông mạnh vào lúc bình minh và hoàng hôn, thời gian còn lại trong ngày nó thường đứng yên trên cây để tiêu hoá thức ăn.
Hoatzin có một hệ thông tiêu hoá bất thường ở loài chim, để lên men thực vật trong hệ tiêu hoá, nó đã sử dụng phần trước của ruột để phân huỷ thức ăn, điều này tương tự như hệ thống tiêu hoá của động vật có vú nhai lại. Cũng chính vì điều này đã tạo nên mùi rất hôi trong cơ thể chúng. Nhờ vào mùi hôi này chúng còn được đặt thêm cho một cái tên khác là chim chồn.
Hoatzin khá ồn ào, khi phát ra âm thanh toàn thân nó sẽ cử động theo, tiếng kêu không có gì đặc biệt giống như tiếng thở khò khè, khàn khàn. Các cuộc gọi thường được sử dụng để duy trì sự liên lạc giữa các cá nhân trong nhóm và để cảnh báo về những mối đe doạ. Tuy có vẻ bề ngoài khá đẹp nhưng chúng lại là một trong những loài chim bay rất kém.
Sinh sản
Hoatzins sinh sản theo mùa và thường là vào mùa mưa. Tổ thường được làm trên mặt nước, trong những cánh rừng ngập mặn. Nhìn chung tổ được làm một cách đại khái từ các cành cây nhỏ, thoạt nhìn khá giống với tổ cò và cách mặt nước từ 2 đến 8 mét. Nó làm tổ cùng với bầy đàn. Chim mẹ sẽ đẻ 2 hoặc 3 quả trứng màu nâu trắng kèm theo các đốm màu nâu đỏ.
Các chim non sẽ được cho ăn bằng thức ăn đã lên men, một đặc điểm hết sức kỳ quặc ở loài chim này đó là ngay khi vừa chui ra khỏi trứng, chim non đã có 2 móng vuốt trên mỗi cánh, nó sử dụng chân và móng vuốt trên cánh để bấu víu vào các cành cây và có thể đứng vững trên cái tổ đơn sơ mà không bị rơi xuống nước.
Khi những kẻ ăn thịt như loài chim ưng tấn công vào bầy đàn, các chim trưởng thành sẽ bay loạn lên gây ồn ào, cố gắng gây sự chú ý và hướng chim ưng sang các con chim trưởng thành, sau đó các chim non sẽ sử dụng chân và móng vuốt di chuyển ra khỏi tổ rồi giấu mình trong bụi rậm, nếu bị phát hiện nó sẽ thả rơi xuống nước và lặn dưới nước để trốn thoát. Sau khi cảm thấy nguy hiểm đã qua, nó sử dụng đôi cánh có móng vuốt để bám víu vào cành cây leo lên bờ và trở lại tổ một cách an toàn.
Dù rõ ràng chúng là loài chim khá lớn với màu lông sặc sỡ nổi bật, rất dễ gây ra sự chú ý. Tuy nhiên chúng không bị liệt vào danh sách loài đang gặp nguy hiểm, trong thực tế sự sống sót của chúng chắc chắn hơn nhiều so với các loài đặc hữu khác.
Ở Brazil người dân bản địa đôi khi còn thu thập trứng đễ sử dụng làm thực phẩm, và các chim trưởng thành đôi khi vẫn bị săn bắt, nhưng nhìn chung đây chỉ là con số ít không đáng lo ngại. Có một điều giúp chúng thoát khỏi con người đó là thịt có mùi rất kinh khủng, vì thế muốn ăn thịt của chúng con người phải là những người không sợ mùi hôi, tuy nhiên điều này sẽ rất hiếm khi xảy ra.
Tuổi thọ trung bình của Gà móng hoang dã là khoảng 15 năm trong tự nhiên và lên đến 30 năm trong điều kiện nuôi nhốt.

Post a Comment

0 Comments