Loài phá hoại nuôi con trước bụng và nguy cơ của một số loài chim bản địa (Chồn Possums)

Chồn Possum (Trichosurus vulpecula) có nguồn gốc từ Úc, khá phổ biến ở New Zealand và nó là thành viên lớn thứ hai của Possums. Giống như hầu hết các loài khác trong họ nhà chồn, Chồn Possum cũng là loài phổ biến về đêm.

Đây là một trong số ít loài động vật có vú ở Úc được người dân thành phố nhìn thấy nhiều nhất về đêm, vì trong tự nhiên nhiều môi trường sống của chúng bị biến đổi, và không còn thích hợp để chúng có thể sinh sống và kiếm ăn, nên buộc chúng phải thích nghi với cuộc sống mới với các vườn rau, cây ăn quả và thậm chí còn tạo ra các cuộc xâm nhập bất hợp pháp vào nhà bếp của người dân.
Chồn Possum có tai lớn và nhọn, nó có một cái đuôi khá to và dài có nhiệm vụ cân bằng và vịn vào cành cây khi trèo, chính giữa ngực có một vệt không lông. Chi trước của nó có móng rất sắc, ngón đầu tiên có thể gọi là ngón cái móng vuốt không phát triển, nhưng hình dáng bàn tay đã được hình thành tạo cho chúng khả năng cầm nắm vô cùng tốt.
Toàn thân có một lớp lông dày và mềm, màu lông có thể thay đổi tuỳ thuộc vào phân loài, các màu có xu hướng bạc xám, nâu, đen, đỏ hoặc kem. Vùng bụng thường có màu nhẹ hơn và vùng đuôi thường là nâu hoặc đen. Mõm được đánh dấu bằng các đốm tối.
Thông thường kích thước chiều dài cơ thể của chúng khoảng 32-58cm, với chiều dài đuôi từ 24 đến 40cm, cân nặng khoảng từ 1,2 đến 4,5kg. Con đực thường lớn hơn con cái, ngoài ra con đực thường có xu hướng màu đỏ ở vai.
Loài chồn possum khá phổ biến và có thể được tìm thấy ở nhiều môi trường sống khác nhau, như các khu rừng, vùng bán khô cần, vùng trồng trọt hoặc đô thị, các đồng cỏ nông nghiệp, kể cả khu rừng sồi và rừng thông, nhìn chung mật độ dân số của loài này khá đông đúc ở New Zealand, điều này có thể là do ở Úc có nhiều rừng bạch đàn phân mảnh và nhiều kẻ thù hơn. Ở Úc loài chồn này bị đe doạ bời con người.
 Chúng thường đi kiếm ăn đơn độc, và các cá nhân được giữ khoảng cách bởi một mùi hương được đánh dấu. Thức ăn chủ yếu của của chúng là các loài động vật có vú nhỏ như chuột, nó thích ăn lá bạch đàn, hoa, chồi, lá bạch đàn, trái cây và hạt. Ngoài ra nó còn tiêu thụ côn trùng, đặc biệt là trứng chim và cả chim non.
Trong tự nhiên loài chồn này thường có những hang hốc như trong các bọng cây rỗng để làm chỗ trú ẩn.
Sinh sản
Loài chồn possum có thể sinh sản vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, chúng giao phối lộn xộn và ngẫu nhiên, con cái có thời gian mang thai khoảng từ 16-18 ngày, sau đó nó sẽ đẻ ra một con non duy nhất, con non mới đẻ chỉ dài khoảng 1,5cm và nặng khoảng 2g. con non vừa lọt lòng đã có thể bò vào túi dưới dụng của chồn mẹ, bên trong túi có một núm vú, các con non sẽ ở trong túi của mẹ khoảng từ 4 đến 5 tháng nữa.
Khi lớn hơn một chút nó sẽ được bỏ lại trong hang hoặc cưỡi lên lưng của chồn mẹ cùng đi kiếm ăn cho đến khi nó được 7 đến 9 tháng tuổi.
Loài chồn này được xem là một loài sâu bệnh ở một số khu vực vì nó gây thiệt hại cho rừng thông, rừng tái sinh, hoa, cây ăn quả và đặc biệt là nó phá hoại trứng gây suy giảm đáng kể ở một số loài chim bản địa. Tuy là loài gây hại nhưng nếu các chồn non bị tổn thương chúng vẫn sẽ được con người cứu chữa tận tình trước khi trả chúng lại với thiên nhiên.
Tuổi thọ trong tự nhiên của chúng có thể lên đến 13 năm.

Video

Post a Comment

0 Comments